(Làm lớn vú – Breast Augmentation)
Một bộ ngực đẹp với hai bầu vú tròn đầy cân đối, hài hòa với vóc dáng cơ thể, với quầng vú tươi hồng, núm vú nhỏ nhắn hồng hào, luôn là khát vọng của mọi người phụ nữ (dĩ nhiên không chỉ riêng phụ nữ). Tuy nhiên, trong quá trình phát triển của người phụ nữ, sự hình thành phát triển tuyến vú tạo nên sự phong phú các kiểu dáng của vú. Trong đó cũng có nhiều sự khác biệt đưa đến những hình thể kém thẩm mỹ cho vú. Đó có thể là những bất thường trong quá trình phát triển cơ thể như là ở người có ngực vú quá lớn hoặc quá nhỏ do kém phát triển, núm vú biến dạng…, hoặc là những bất thường do đời sống, do tuổi tác và thời gian như vú teo nhỏ bất thường hoặc vú sa xệ sau khi sinh đẻ…Đặc biệt hiện tượng vú teo nhỏ hoặc chảy xệ sau khi sinh đẻ là hiện tượng rất phổ biến của phụ nữ Việt Nam. Nguyên nhân có lẽ do đặc điểm về hình thể nòi giống và điều kiện sống, làm việc chưa thuận lợi cho người phụ nữ Việt Nam trong việc giữ gìn, chăm sóc và bảo dưỡng sắc đẹp của bản thân.
Giải phẫu thẩm mỹ ngực bao gồm những kỹ thuật ngoại khoa để bảo vệ vẻ đẹp hình thể của bộ ngực và có thể phục hồi tái tạo vẻ đẹp đó khi ngực bị biến dạng làm xấu đi.
Giải phẫu thẩm mỹ chính là phương pháp hữu hiệu nhất để làm lớn ngực, tăng khối lượng bầu vú, mang lại cho vú một kích thước và hình dáng thẩm mỹ như ý muốn, giúp người phụ nữ thêm tự tin và hạnh phúc trong cuộc sống.
Kể từ năm 1960 đến nay hàng triệu phụ nữ trên thế giới đã được giải phẫu thẩm mỹ nâng ngực bằng túi nâng ngực với kết quả đáng hài lòng.
Hàng năm có khoảng 100.000 phụ nữ Châu Âu đặt túi nâng ngực. Riêng năm 2000 ở Mỹ có 200.000 phụ nữ làm giải phẫu thẩm mỹ nâng ngực.
A. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ CỦA PHƯƠNG PHÁP NÂNG NGỰC:
Ở đây chúng tôi chỉ đề cập tới những kỹ thuật làm tăng khối lượng vú với mục đích thẩm mỹ thuần túy.
Trên thế giới, từ rất lâu người ta đã biết sử dụng các kỹ thuật để giải phẫu thẩm mỹ ngực với mục đích làm đẹp.Ngay từ những năm 1940, người ta đã thực hiện giải phẫu làm lớn vú bằng cách sử dụng các vạt mỡ độn vào dưới tuyến vú. Những năm 1950, túi nâng ngực Silicone ra đời. Đây là một túi thường có dạng tròn, mà vỏ túi làm bằng hợp chất Silicone, rất dẻo dai bền chắc và mềm mại, bên trong chứa các chất có thể là Silicone lỏng, hoặc gel hoặc huyết thanh sinh lý (Serum physiologique hay saline – là nước muối sinh lý mà dân gian thường gọi là nước biển). Sử dụng túi này mang lại kết quả thẩm mỹ tốt và ít gây biến chứng. Vì thế túi ngực đã trở thành vật liệu chính để nâng ngực và ngày càng phổ biến trên thế giới.
Những cải tiến liên tục về thành phần chất liệu vỏ túi, hình dạng túi và kỹ thuật giải phẫu đặt túi, đã làm cho phương pháp này ngày càng trở thành phương pháp hữu hiệu nhất để làm lớn vú, đạt hiệu quả thẩm mỹ cao, tạo vẻ đẹp hài hòa tự nhiên.
B. SƠ LƯỢC VỀ TÚI NÂNG NGỰC ( BREAST IMPLANT)
Đây là một túi rỗng, có thể có từ 1-3 lớp vỏ, có nhiều hình dạng như tròn, oval, giọt nước,… với nhiều kích cỡ khác nhau ( thường có dung lượng từ 125cc đến 600cc). Vỏ túi được chế tạo từ hợp chất của Silicone và gần đây có thêm loại túi mà vỏ có phủ một lớp Polyurethane.Túi có đặc tính là rất mềm mại, nhưng rất dai, bền và đàn hồi. Càng về sau này người ta càng cải tiến nhiều về hình dạng túi.
Để an toàn và ngăn thẩm thấu các chất chứa bên trong ra tổ chức mô của cơ thể, người ta làm túi có 2 đến 3 lớp vỏ. Để chống hiện tượng co rút sẹo quanh túi, người ta làm ra túi ngực có mặt vỏ nhám, gồm vô số những gai nhỏ trên mặt túi ( microtexture). Túi ngực có loại có chứa sẵn dịch bên trong và có loại bơm dịch sau khi đặt vào cơ thể qua một van tự động
Túi dịch chứa sẵn dịch có ưu điểm là có thể kiểm soát chất lượng túi trước khi đặt, không có hiện tượng rò rỉ qua van khi van bị trục trặc, nhưng có nhược điểm là cần vết mổ lớn hơn, để lại vết sẹo lớn hơn ( thường dài khoảng 5cm)
Túi ngực bơm sau có ưu điểm là chỉ cần đường mổ ngắn khoảng 2cm, nên khi lành vết sẹo hầu như không thấy và khi bơm có thể điều chỉnh khối lượng dịch cho phù hợp với tình trạng thực tế ( nhà sản xuất cho phép dung sai của khối lượng dịch so với túi từ 20cc đến 40cc), nhưng nó có nhược điểm là có thể bị trục trặc van gây rò rỉ hàm lượng dịch của túi giảm dần. Mặc dù tỷ lệ hư van là rất thấp nhưng nếu có và tới mức ảnh hưởng thẩm mỹ thì bắt buộc phải can thiệp để bơm bù lượng dịch thậm chí phải thay túi khác.
Trường hợp nâng ngực bằng túi Silicone đầu tiên được thực hiện ở Mỹ năm 1962. Đến năm 1992, đã có 2 triệu phụ nữ Mỹ đặt túi nâng ngực. Đặc biệt túi nâng ngực chứa Silicone dạng gel tạo hiệu quả thẩm mỹ tuyệt vời với hình dạng và độ mềm mại của vú hết sức tự nhiên.
Ngoài tỷ lệ thấp khoảng 3-5% có thể có những tai biến, biến chứng như bất kỳ một loại phẫu thuật nào khác, người ta chưa có bằng chứng khoa học nào chứng minh tác hại của túi nâng ngực và đặc biệt là chưa có bằng chứng về việc túi nâng ngực gây ung thư. Một nghiên cứu toàn diện mới nhất ở Anh (1998) cũng cho thấy chưa tìm ra chứng cứ gì về việc túi nâng ngực gây ra các tai biến đó.
Trong 10 năm gần đây, một loại túi nâng ngực mới ra đời, là thành tựu y học tiên tiến của Mỹ. Các hãng sản xuất túi nâng ngực của Mỹ đã chế tạo ra loại túi nâng ngực chứa bên trong là một hợp chất dạng gel thế hệ mới, có những đặc tính hết sức ưu việt, mang lại sự an toàn cao nhất cho sức khỏe và hiệu quả thẩm mỹ tuyệt vời. Chất gel này cũng có silicon là thành phần chính nhưng không phải la duy nhất. Ngoài các tính chất chung của Silicone như đã nói ở trên, nó còn là một hợp chất có khả năng bảo toàn cấu trúc nhờ tính kết dính cao đồng chất ( cohe-sive) và nhất là vì nó có khả năng ghi nhớ cấu trúc của nó ( memory), nhờ vậy nó luôn luôn giữ được hình khối thống nhất trong mọi tình trạng, ngay cả khi bị cắt rời ra nó vẫn giữ nguyên khối chứ không bị xẹp xuống hay tan chảy. Chính vì vậy mà sau khi đặt vào ngực sẽ không còn sợ bị rò rỉ chất liệu ra cơ thể và nó giữ cho túi ngực luôn có hình khối như thiết kế ban đầu. Những đặc tính này làm cho kết quả nâng ngực hết sức mỹ mãn do ngực luôn có được hình khối thẩm mỹ đẹp và cho cảm giác hết sức tư nhiên khi sờ nắn, đặc biệt ngay cả khi bị rách vỡ nó cũng không tan chảy thâm nhập vào mô cơ thể mà giữ nguyên hình khối nên có thể lấy bỏ dễ dàng, không gây tác hại gì cho cơ thể. Loại túi nâng ngực chứa chất gel này đang được sử dụng ngày càng phổ biến trên thế giới.
Với những cải tiến liên tục về chất liệu và kỹ thuật giải phẫu, trong những điều kiện an toàn tuyệt đối, giải phẫu thẩm mỹ nâng ngực ngày càng trở nên phổ biến, an toàn và mang lại kết quả thẩm mỹ tuyệt vời.

C. CHỈ ĐỊNH:
Áp dụng nâng ngực trong các trường hợp:
- Vú kém phát triển ( kiểu ngực đàn ông)
- Vú teo nhỏ sau khi sinh đẻ
- Vú teo nhỏ sau sự sụt giảm bất thường trọng lượng cơ thể
- Vú teo nhỏ ở người gầy ốm, ăn kiêng cữ quá đáng
- Hai vú không đều
- Vú chảy xệ ( cần kết hợp với phẫu thuật cắt bỏ da dư)
D. KỸ THUẬT GIẢI PHẪU:
1. Vô cảm: Có thể làm gây mê toàn thân hoặc gây tê tại chỗ vùng vú.
2. Vị trí đặt túi: Tùy trường hợp có thể là:
- Trên cơ ngực lớn ( dưới tuyến vú)
- Dưới cơ ngực lớn
3. Đường mổ: Tùy trường hợp có thể là:
a) Ba đường mổ kinh điển của thế giới
- Đường nếp vú ( dọc theo nếp lằn dưới vú)
- Đường quanh quầng vú ( dọc theo rãnh giới da và quầng vú)
- Đường nách ( theo nếp nhăn da ở hố nách)
b) Ngoài 3 đường mổ kinh điển như trên, có thể sử dụng thêm 3 đường mổ khác:
- Đường bụng ( khi có kết hợp với thủ thuật khác ở vùng bụng như căng da bụng)
- Đường tự nhiên ( lợi dụng các vết sẹo có trước hay nhân dịp một cuộc giải phẫu khác ở vùng lân cận ngực)
- Đường chân núm vú
Chúng tôi đã sử dụng đường mổ này cho nhiều trường hợp và thu được kết quả tốt. Sau giải phẫu, hoàn toàn không để lại dấu vết gì trên cơ thể. Tuy nhiên đây là đường mổ rất khó khăn vì diện tích nhỏ, khi làm cần lựa chọn chỉ định đúng và đòi hỏi thao tác khéo léo, chính xác.
E. SĂN SÓC SAU GIẢI PHẪU:
- Băng ép cố định hai vú với áp lực vừa phải.
- Tùy tình trạng bệnh nhân có thể ở lại cơ sở 12h hay 24h
- Thay băng ngày hôm sau và cho mang loại băng ngực chuyên dụng cho giải phẫu nâng ngực.
- Hết đau và hết sưng sau 1 tuần.
- Thuốc kháng sinh, chống viêm cần thiết nhưng không lạm dụng.
F. CÁC BIẾN CHỨNG CÓ THỂ GẶP:
- Co rút bao sẹo quanh túi ngực ( capsular contracture) gây đau, thậm chí biến dạng vú ( trường hợp này chiếm tỷ lệ khoảng 3%-5%).
- Dò rỉ dịch chứa trong túi, nhất là trong trường hợp dùng túi huyết thanh bơm sau, làm giảm khối lượng nên cần can thiệp bù lại lượng dịch hoặc thay túi khác nếu cần.
- Cũng có thể gặp rối loạn cảm giác vú và đầu vú. Hết dần sau 3-6 tháng.
- Có thể có trường hợp sờ thấy hay nhìn thấy lằn nếp gấp túi dưới da. Nguyên nhân có thể là do kích thước túi không phù hợp với khoang đặt túi ( khi phẫu thuật) hoặc do phản ứng co kéo ( contracture) của mô tổ chức quanh túi hoặc do lượng dịch chứa trong túi bị sụt giảm. Tùy mức độ để chọn biện pháp can thiệp chỉnh sửa trong từng trường hợp.
- Có thể bắt đầu tập thể dục sau 1 tháng.
Lưu ý:
- Việc lựa chọn loại túi ngực, kích cỡ túi và kỹ thuật giải phẫu tùy thuộc vào tài năng bác sĩ và có tình quyết định đến kết quả thẩm mỹ, tất nhiên phải có sự bàn bạc thống nhất với bệnh nhân trước khi làm.
- Cần chụp hình vú, ngực trước và sau giải phẫu.
- Vú sẽ mềm mại và có hình khối thẩm mỹ sau 3 tháng và thường sau 6 tháng – 1 năm mới ổn định hoàn toàn.
- Việc làm giải phẫu thẩm mỹ nâng ngực không ảnh hưởng đến việc có bầu và sinh con, cho con bú về sau. ( Ở Mỹ cho phép người từ 18 tuổi được làm giải phẫu nâng ngực). Từ 16 đến 18 tuổi cũng có thể làm nhưng phải có cam kết đồng ý của cha mẹ.
- Khi cần làm chẩn đoán hình ảnh như chụp X- quang, siêu âm, nhũ ảnh…cần báo trước cho bác sĩ về tình trạng mang túi nâng ngực. |